Latest Post
Showing posts with label Văn Hóa. Show all posts
Showing posts with label Văn Hóa. Show all posts
7:35 AM
Cận cảnh các 'kiệt tác Rồng' vàng khối của triều Nguyễn
hững bảo vật làm bằng vàng khối của vua chúa nhà Nguyễn gây ấn tượng cực kỳ mạnh mẽ tới bất cứ người nào có cơ hội được chiêm ngưỡng...
Dưới đây là một số hình ảnh được ghi nhận tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội:

















Dưới đây là một số hình ảnh được ghi nhận tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội:
Tượng rồng làm bằng vàng, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842).
Rồng trang trí trên ấn vàng "Mệnh đức chi bảo", niên hiệu Gia Long (1802 - 1819).
Rồng trang trí trên ấn vàng "Khâm văn chi tỉ", niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 8 (1827).
Chậu làm bằng vàng ròng trang trí hoa văn rồng được dùng trong cung đình nhà Nguyễn.
Những chiếc ấm vàng được trang trí hình rồng.
Hoa văn rồng trên hộp trầu làm bằng vàng và bạc niên hiệu Minh Mệnh (1820 - 1841).
Hộp chè bằng vàng có trang trí rồng.
Rồng trang trí trên Kim sách (sách bằng vàng), niên hiệu Tự Đức năm thứ 36 (1883).
Không lộng lẫy như vàng, nhưng những tác phẩm làm bằng bạc cũng rất ấn tượng, như những chiếc đỉnh ở trên.
Hộp đựng Kim sách làm bằng bạc, có khắc hình rồng.
Ống cắm bút trang trí rồng và rùa.
Ấn "Phong tặng chi bảo", niên hiệu gia Long năm thứ nhất (1802) làm bằng bạc.
1:34 AM
Những biến tấu ngon bất ngờ từ phở
Phở chiên, phở cuốn, phở trộn... là những món ăn hấp dẫn được biến tấu từ món phở truyền thống của người Việt.
Phở chiên
Có nguồn gốc từ miền Bắc, phở chiên có cách chế biến gần giống món bột chiên của người miền Nam, nhưng lại công phu và cầu kỳ hơn. Cái hấp dẫn của món ăn này chính là bánh phở chiên giòn bên ngoài nhưng lại không bị cứng, bên trong sợi phở vẫn mềm dai rất vừa miệng.
Thành phần chính của món ăn là bánh phở thái thành sợi dài. Một lượng bánh phở vừa đủ được cho vào một chiếc bát lớn. Trứng gà lấy lòng đỏ, đánh tan với ít hạt nêm, bột ngô. Chế hỗn hợp đó lên bánh phở rồi để trong khoảng 15 phút. Dầu được đun sôi, cho bánh phở vào, dàn mỏng ra rồi chiên giòn vàng. Các nguyên liệu như cải ngọt, giá, cà rốt, hành lá được thái mỏng xào chung với thịt bò cùng ít gia vị. Khi ăn, bánh phở chiên được bày ra đĩa, các nguyên liệu ăn kèm được cho lên trên, bên cạnh là chén nước tương ớt.
Phở gà trộn
Phở gà trộn được chế biến đơn giản từ nguyên liệu chính của món phở gà nước cổ điển nhưng được thay đổi một chút trong cách ăn. Không cho tất cả các nguyên liệu vào bát và chan nước dùng vào như cách thông thường, các nguyên liệu được trộn đều với nhau cùng nước tương chua chua ngọt ngọt.

Thịt gà là thành phần chính của món ăn. Gà ta thịt chắc, khi ăn mềm nhưng hơi dai dai và có vị ngọt. Gà dùng để trộn thường được thái thành lát hoặc xé nhỏ, thấm gia vị, đem lại sự đậm đà khi ăn. Khi ăn phở trộn, lúc nào cũng có chén nước dùng riêng để ăn kèm.
Phở cuốn
Món ăn đơn giản với bánh phở, thịt bò, các loại rau thơm... được cuốn tròn như món gỏi, ăn kèm với nước chấm chua ngọt. Thịt bò rửa sạch thái lát mỏng vừa ăn, ướp chung với các loại gia vị, thời gian ướp thịt không quá lâu, chừng hơn nửa giờ là đủ. Sau đó, cho lên chảo và xào vừa chín tới, không xào quá chín vì làm thịt dai, mất đi vị ngọt.

Bánh phở dùng để cuốn là loại bánh mỏng, mềm nhưng dai. Khi cuốn xong, món ăn có màu trắng trong, vỏ không bị rách nát thì mới là bánh phở ngon. Để cuốn phở rất đơn giản, một miếng bánh phở hình vuông hoặc chữ nhật được trải ra mâm, cho lên trên các loại rau như xà lách, húng quế, ngò rí... xúc thịt vừa xào xong vào giữa bánh phở, nhẹ nhàng cuốn lại gọn gàng trong lớp bánh phở trắng ngần mềm mượt bên ngoài. Ăn kèm là chén nước chấm đậm đà hơi cay.
Phở chua
Phở chua là một món ăn đặc sản cùa vùng đất Lạng Sơn. Thành phần của món ăn ngoài bánh phở còn có: thịt xá xíu, xíu dạ dày, mực khô xé, lạp xường, xúc xích, ca la thầu (củ cải dầm), hành khô, lạc giã, rau thơm và khoai lang thái sợi chiên vàng. Điều đặc biệt nhất trong món ăn chính là vị chua ngọt của nước dùng, vừa đem đến sự lạ miệng lại không mang cảm giác ngấy cho người ăn. Để làm nước dùng chua này thì có rất nhiều cách, người ta có thể tạo vị chua từ nước sốt me hay nước muối dưa hoặc làm từ cà chua, giấm ăn cùng hành tỏi phi thơm và một số loại gia vị khác.

Khi thưởng thức món này, thực khách sẽ được nếm đầy đủ các hương vị chua, ngọt, mặn, cay... một cách rất hài hòa. Không chỉ vậy, chính nhờ sự đa dạng về hương vị nên mặc dù có nhiều thịt cũng không làm người ăn cảm giác ngấy khi ăn.
Có nguồn gốc từ miền Bắc, phở chiên có cách chế biến gần giống món bột chiên của người miền Nam, nhưng lại công phu và cầu kỳ hơn. Cái hấp dẫn của món ăn này chính là bánh phở chiên giòn bên ngoài nhưng lại không bị cứng, bên trong sợi phở vẫn mềm dai rất vừa miệng.
Phở chiên có cách chế biến gần giống với món bột chiên của người miền Nam. Ảnh: H.P.
Thành phần chính của món ăn là bánh phở thái thành sợi dài. Một lượng bánh phở vừa đủ được cho vào một chiếc bát lớn. Trứng gà lấy lòng đỏ, đánh tan với ít hạt nêm, bột ngô. Chế hỗn hợp đó lên bánh phở rồi để trong khoảng 15 phút. Dầu được đun sôi, cho bánh phở vào, dàn mỏng ra rồi chiên giòn vàng. Các nguyên liệu như cải ngọt, giá, cà rốt, hành lá được thái mỏng xào chung với thịt bò cùng ít gia vị. Khi ăn, bánh phở chiên được bày ra đĩa, các nguyên liệu ăn kèm được cho lên trên, bên cạnh là chén nước tương ớt.
Phở gà trộn
Phở gà trộn được chế biến đơn giản từ nguyên liệu chính của món phở gà nước cổ điển nhưng được thay đổi một chút trong cách ăn. Không cho tất cả các nguyên liệu vào bát và chan nước dùng vào như cách thông thường, các nguyên liệu được trộn đều với nhau cùng nước tương chua chua ngọt ngọt.
Phở gà trộn vừa đậm đà vừa có vị ngọt thịt ngon miệng. Ảnh: H.P.
Thịt gà là thành phần chính của món ăn. Gà ta thịt chắc, khi ăn mềm nhưng hơi dai dai và có vị ngọt. Gà dùng để trộn thường được thái thành lát hoặc xé nhỏ, thấm gia vị, đem lại sự đậm đà khi ăn. Khi ăn phở trộn, lúc nào cũng có chén nước dùng riêng để ăn kèm.
Phở cuốn
Món ăn đơn giản với bánh phở, thịt bò, các loại rau thơm... được cuốn tròn như món gỏi, ăn kèm với nước chấm chua ngọt. Thịt bò rửa sạch thái lát mỏng vừa ăn, ướp chung với các loại gia vị, thời gian ướp thịt không quá lâu, chừng hơn nửa giờ là đủ. Sau đó, cho lên chảo và xào vừa chín tới, không xào quá chín vì làm thịt dai, mất đi vị ngọt.
Phở cuốn là món ăn vặt nồi tiếng của đất Hà Nội nhưng cũng được bán nhiều ở Sài Gòn. Ảnh: H.P.
Bánh phở dùng để cuốn là loại bánh mỏng, mềm nhưng dai. Khi cuốn xong, món ăn có màu trắng trong, vỏ không bị rách nát thì mới là bánh phở ngon. Để cuốn phở rất đơn giản, một miếng bánh phở hình vuông hoặc chữ nhật được trải ra mâm, cho lên trên các loại rau như xà lách, húng quế, ngò rí... xúc thịt vừa xào xong vào giữa bánh phở, nhẹ nhàng cuốn lại gọn gàng trong lớp bánh phở trắng ngần mềm mượt bên ngoài. Ăn kèm là chén nước chấm đậm đà hơi cay.
Phở chua
Phở chua là một món ăn đặc sản cùa vùng đất Lạng Sơn. Thành phần của món ăn ngoài bánh phở còn có: thịt xá xíu, xíu dạ dày, mực khô xé, lạp xường, xúc xích, ca la thầu (củ cải dầm), hành khô, lạc giã, rau thơm và khoai lang thái sợi chiên vàng. Điều đặc biệt nhất trong món ăn chính là vị chua ngọt của nước dùng, vừa đem đến sự lạ miệng lại không mang cảm giác ngấy cho người ăn. Để làm nước dùng chua này thì có rất nhiều cách, người ta có thể tạo vị chua từ nước sốt me hay nước muối dưa hoặc làm từ cà chua, giấm ăn cùng hành tỏi phi thơm và một số loại gia vị khác.
Đĩa phở chua nhiều màu sắc rất đẹp mắt của người dân xứ Lạng. Ảnh: Shironeko.
Khi thưởng thức món này, thực khách sẽ được nếm đầy đủ các hương vị chua, ngọt, mặn, cay... một cách rất hài hòa. Không chỉ vậy, chính nhờ sự đa dạng về hương vị nên mặc dù có nhiều thịt cũng không làm người ăn cảm giác ngấy khi ăn.
1:19 AM
Náo nhiệt tại lễ hội đua bò An Giang
Lễ hội đua bò năm nay diễn ra với sự tham gia của 64 cặp bò đến từ các huyện của tỉnh An Giang trong dịp Lễ Sen Dolta của đồng bào dân tộc Khmer.
Lễ hội đua bò truyền thống vùng Bảy Núi năm 2013 khai mạc sáng 4/10 tại sân chùa Thơ Mít, xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
64 cặp bò đến từ các huyện trong và ngoài tỉnh như Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn (An Giang), Hòn Đất (Kiên Giang)... tham gia tranh tài theo hình thức bốc thăm và đấu loại trực tiếp. Riêng huyện Tịnh Biên có số "thí sinh" đông nhất: 25 cặp bò.
Xuất phát từ vùng Bảy Núi (tỉnh An Giang), đua bò là môn thể thao mang đậm dấu ấn văn hóa Khmer Nam Bộ, diễn ra vào mỗi dịp lễ Sen Dolta hàng năm của đồng bào Khmer (ngày 29, 30 tháng 8 và 1 tháng 9 âm lịch). Đây là lễ được tổ chức nhằm tưởng nhớ đến công ơn ông bà, cha mẹ.
Môn thể thao truyền thống này đã được tổ chức thành giải Đua bò Bảy Núi tranh cúp Truyền hình An Giang, liên tục từ năm 1992 đến nay. Để chuẩn bị cho cuộc đua bò, người ta chọn một khoảnh ruộng bằng phẳng, chiều dài chừng 200 m, ngang 100 m có nước xăm xắp, được xới nhiều lần cho có độ trơn của bùn, bốn bên có bờ bao và điểm đích có đoạn đường trống để làm độ dừng an toàn cho bò.
Đoạn đường đua chính chỉ cần 120 m theo khoảnh ruộng cặp sát bờ bao. Nơi xuất phát được cắm 2 cây cờ màu xanh, đỏ mỗi cây cách nhau 5 m, và tại điểm đích cũng vậy. Đôi bò nào đứng ở vị trí cây cờ màu gì thì điểm đích cũng theo màu của cây cờ đó.
Trước khi vào cuộc đua, người ta chọn từng đôi bò với nhau hoặc bốc thăm và thoả thuận một số quy định cần thiết như ai sẽ đi trước, đi sau... Từng đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, gọng bừa là bàn đạp gồm một tấm gỗ rộng 30 cm, dài 90 cm, bên dưới là răng bừa. Người điều khiển bò cầm roi mây hoặc khúc gỗ tròn vừa tay độ 3 cm, đầu có tra cây đinh nhọn. Khi bắt đầu lệnh xuất phát của trọng tài, người điều khiển chích mạnh cây đinh nhọn vào mông con bò, bò bị đau phóng nhanh về phía trước.

Nếu trong khi đua, đôi bò nào chạy ra khỏi đường đua sẽ bị loại và đôi bò sau giẫm lên giàn bừa của đôi bò trước là thắng cuộc. Còn người điều khiển phải đứng thật vững nếu bị ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa coi như thua cuộc.
Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Văn Lên, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang cho biết, lễ hội đua bò truyền thống tại vùng Bảy Núi những năm gần đây đã thực sự trở thành sinh hoạt thể thao, văn hóa ngày càng phát triển. Cơ quan này đang hoàn tất các thủ tục để từ nay đến cuối năm có thể trình lên Bộ, đề nghị công nhận là lễ hội quốc gia.

"Hy vọng hội đua bò Bảy Núi sẽ trở thành lễ hội quốc gia trong tương lai không xa. Lễ hội không chỉ phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tôn vinh văn hóa truyền thống mà còn là điểm đến du lịch không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước", ông Lên cho hay.
64 cặp bò đến từ các huyện trong và ngoài tỉnh như Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn (An Giang), Hòn Đất (Kiên Giang)... tham gia tranh tài theo hình thức bốc thăm và đấu loại trực tiếp. Riêng huyện Tịnh Biên có số "thí sinh" đông nhất: 25 cặp bò.
Lễ hội đua bò hàng năm thu hút rất nhiều du khách từ các tỉnh lân cận. Ảnh: ATV
Xuất phát từ vùng Bảy Núi (tỉnh An Giang), đua bò là môn thể thao mang đậm dấu ấn văn hóa Khmer Nam Bộ, diễn ra vào mỗi dịp lễ Sen Dolta hàng năm của đồng bào Khmer (ngày 29, 30 tháng 8 và 1 tháng 9 âm lịch). Đây là lễ được tổ chức nhằm tưởng nhớ đến công ơn ông bà, cha mẹ.
Môn thể thao truyền thống này đã được tổ chức thành giải Đua bò Bảy Núi tranh cúp Truyền hình An Giang, liên tục từ năm 1992 đến nay. Để chuẩn bị cho cuộc đua bò, người ta chọn một khoảnh ruộng bằng phẳng, chiều dài chừng 200 m, ngang 100 m có nước xăm xắp, được xới nhiều lần cho có độ trơn của bùn, bốn bên có bờ bao và điểm đích có đoạn đường trống để làm độ dừng an toàn cho bò.
Đoạn đường đua chính chỉ cần 120 m theo khoảnh ruộng cặp sát bờ bao. Nơi xuất phát được cắm 2 cây cờ màu xanh, đỏ mỗi cây cách nhau 5 m, và tại điểm đích cũng vậy. Đôi bò nào đứng ở vị trí cây cờ màu gì thì điểm đích cũng theo màu của cây cờ đó.
Trước khi vào cuộc đua, người ta chọn từng đôi bò với nhau hoặc bốc thăm và thoả thuận một số quy định cần thiết như ai sẽ đi trước, đi sau... Từng đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, gọng bừa là bàn đạp gồm một tấm gỗ rộng 30 cm, dài 90 cm, bên dưới là răng bừa. Người điều khiển bò cầm roi mây hoặc khúc gỗ tròn vừa tay độ 3 cm, đầu có tra cây đinh nhọn. Khi bắt đầu lệnh xuất phát của trọng tài, người điều khiển chích mạnh cây đinh nhọn vào mông con bò, bò bị đau phóng nhanh về phía trước.
Các cặp bò tranh tài. Ảnh: thethaovietnam
Nếu trong khi đua, đôi bò nào chạy ra khỏi đường đua sẽ bị loại và đôi bò sau giẫm lên giàn bừa của đôi bò trước là thắng cuộc. Còn người điều khiển phải đứng thật vững nếu bị ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa coi như thua cuộc.
Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Văn Lên, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang cho biết, lễ hội đua bò truyền thống tại vùng Bảy Núi những năm gần đây đã thực sự trở thành sinh hoạt thể thao, văn hóa ngày càng phát triển. Cơ quan này đang hoàn tất các thủ tục để từ nay đến cuối năm có thể trình lên Bộ, đề nghị công nhận là lễ hội quốc gia.
Người điều khiển phải đứng thật vững. Ảnh: travel
"Hy vọng hội đua bò Bảy Núi sẽ trở thành lễ hội quốc gia trong tương lai không xa. Lễ hội không chỉ phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tôn vinh văn hóa truyền thống mà còn là điểm đến du lịch không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước", ông Lên cho hay.
1:18 AM

Sáng nay tại chùa Ba Vàng (TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) đã diễn ra hội hoa cúc

Hơn 80 giống hoa cúc được sưu tầm mọi miền đất nước đã được trưng bày,
giới thiệu với nhiều không gian khác nhau tại chùa Ba Vàng

Rước nước từ giếng nước sơn thần


Cầu mong những điều tốt lành, may mắn cho muôn dân


Các loại hoa cúc trên khắp mọi miền Tổ quốc đều được hội tụ về đây

Nghệ nhân cắm hoa Hoàng Khánh

Không gian hoa Cúc tràn ngập tại chùa Ba Vàng

Lễ hội hoa cúc rực rỡ ở Quảng Ninh
Hơn 80 giống hoa cúc được sưu tầm mọi miền đất nước đã được trưng bày, giới thiệu với nhiều không gian khác nhau tại Hội hoa cúc diễn ra ngày 18-10 tại TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Hội hoa cúc năm nay được tổ chức lần đầu tiên tại chùa Ba Vàng, một điểm đến nằm trong khu danh thắng Yên Tử. Cùng với thưởng ngoạn các không gian hoa cúc, du khách còn có thể tham gia vào các hoạt động văn hóa văn nghệ truyền thống như: Trình diễn và tặng thư pháp; chiếu chèo - tuồng cổ sân đình, thi cắm hoa cúc mùa thu giữa các nghệ nhân…
Theo Đại Đức Thích Trúc Thái Minh, trụ trì nhà chùa, ngày 9-9 âm lịch là ngày tết cổ xưa của người Việt, gọi là tết Trùng Dương, hay tết Trùng Cửu, ngày tết hoa cúc. Tết Trùng Cửu lấy sự lặp lại của hai số 9 để nói về sự trường thọ, là một tập tục khá phổ biến xưa kia, mang nhiều nét đẹp về văn hóa. Trong tết Trùng Cửu, các văn nhân thường lên núi ngắm trăng làm thơ xướng họa; người dân thì vào rừng hái hoa cúc mang về cắm để cầu mong điều may mắn đến với mình và gia đình. Tết Trùng Cửu còn là tết cơm mới, mọi người làm nhiều món ăn biếu cha mẹ, họ hàng nội ngoại để biểu thị sự kính trọng, hiếu thuận…
Vì hình ảnh đặc biệt của hoa cúc gắn liền với danh thắng Yên Tử, cũng như văn hóa đời Trần, do đó, hội hoa cúc được tổ chức tại chùa Ba Vàng lần này cũng nhằm khôi phục lại một nét đẹp trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là một hoạt động thiết thực hưởng ứng kỷ niệm 50 thành lập tỉnh Quảng Ninh (30/10/1963 - 30/10/2013).
Được biết, sau hội hoa cúc lần này, ban tổ chức sẽ xây dựng kế hoạch tổ chức thường niên, để lễ hội trở thành một trong những lễ hội văn hoá của TP. Uông Bí nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chúng, góp phần xây dựng khu danh thắng Yên Tử trở thành một trong những trung tâm du lịch tâm linh của cả nước.
Dưới đây là một số hình ảnh ghi nhận tại Hội hoa cúc diễn ra sáng nay:
Vì hình ảnh đặc biệt của hoa cúc gắn liền với danh thắng Yên Tử, cũng như văn hóa đời Trần, do đó, hội hoa cúc được tổ chức tại chùa Ba Vàng lần này cũng nhằm khôi phục lại một nét đẹp trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là một hoạt động thiết thực hưởng ứng kỷ niệm 50 thành lập tỉnh Quảng Ninh (30/10/1963 - 30/10/2013).
Được biết, sau hội hoa cúc lần này, ban tổ chức sẽ xây dựng kế hoạch tổ chức thường niên, để lễ hội trở thành một trong những lễ hội văn hoá của TP. Uông Bí nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chúng, góp phần xây dựng khu danh thắng Yên Tử trở thành một trong những trung tâm du lịch tâm linh của cả nước.
Dưới đây là một số hình ảnh ghi nhận tại Hội hoa cúc diễn ra sáng nay:
Sáng nay tại chùa Ba Vàng (TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) đã diễn ra hội hoa cúc
Hơn 80 giống hoa cúc được sưu tầm mọi miền đất nước đã được trưng bày,
giới thiệu với nhiều không gian khác nhau tại chùa Ba Vàng
Rước nước từ giếng nước sơn thần
Cầu mong những điều tốt lành, may mắn cho muôn dân
Các loại hoa cúc trên khắp mọi miền Tổ quốc đều được hội tụ về đây
Nghệ nhân cắm hoa Hoàng Khánh
Không gian hoa Cúc tràn ngập tại chùa Ba Vàng
Đông đảo phật tử, du khách đã về dự hội hoa cúc
1:16 AM
Những lễ hội dã man nhất Việt Nam
Trong một số lễ hội tại Việt Nam, người dân thường tổ chức chém lợn hay đâm trâu để tạ ơn trời và thần linh đã ban phát cho mùa màng tốt tươi.
Lễ hội chém lợn ở Bắc Ninh
Thường vào ngày 6 Tết hàng năm, người dân ở làng Ném Thượng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh đổ về sân đình để chứng kiến lễ rước và chém lợn tế thần truyền thống dịp đầu xuân.
Tục truyền có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hàng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất.
Vào ngày này, người dân chọn hai con lợn và người chủ nuôi hợp tuổi, có gia cảnh tốt để giao nhiệm vụ chăn nuôi, chờ đến ngày tế lễ. Do tôn thờ ngày lễ long trọng này, người dân gọi là hai "ông ỉn" và được nhốt trong cũi hồng rước đi vòng quanh làng với các phường trống, kèn, cờ, táng lọng cùng các đội múa, đội tế lễ, đội dâng hương... Khi đoàn tế lễ đi qua, người dân trong làng bày mâm cúng, góp tiền công đức.
Sau màn "trình diễn" khắp làng, lễ rước trở lại sân đình. Vị Tướng làm lễ phất cờ, hai đao thủ được dân làng chọn từ những gia đình hạnh phúc, con cháu đề huề, nuôi lợn mát tay, khỏe mạnh và phải đúng 50 tuổi ra tay chém hai "ông ỉn" tế thánh. Hai chú lợn nhanh chóng bị chém đứt làm đôi trong sự hò reo của người tham gia lễ hội.
Theo tín ngưỡng dân gian của vùng quê Kinh Bắc, máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu... Vì vậy sau mỗi khi chém lợn, người dân hoặc du khách tranh nhau sờ vào tiết lợn dây đầy trên sân để cầu may. Lợn tế thánh được chia cho mọi người trong làng với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc.
Lễ hội chọi trâu Hải Phòng
Hàng năm, vào ngày 8 tháng 9 âm lịch, người dân ở khắp nơi lại nô nức kéo về Đồ Sơn, Hải Phòng để xem chọi trâu. Đây là một lễ hội truyền thống của người dân vạn chài tại vùng biển Đồ Sơn.
Từ trước đó một năm, người nuôi trâu phải lựa chọn những con trâu to khỏe và nuôi dưỡng, chăm sóc rất công phu để chuẩn bị cho lễ hội chọi trâu. Trâu chọi phải được nuôi ở chuồng riêng, tách biệt và kín đáo. Đặc biệt, trâu chọi không bao giờ được nhìn thấy trâu nhà, cốt là để khôi phục bản năng hoang dã, đơn độc. Sân đấu thường là một bãi đất rộng, với hàng nghìn người theo dõi.

Sau khi huấn luyện, con nào được chọn làm trâu chọi sẽ được gọi một cách tôn kính là “ông trâu”. Trước giờ thi đấu, trâu được dẫn ra sân để làm quen với không khí.
Mở đầu lễ hội là Lễ tế thần Điểm Tước (vị thủy thần và cũng là thành hoàng làng của cả vùng Đồ Sơn). Sau đó là phần hội chọi trâu. Tại sới chọi, trâu được dẫn ra có người che lọng và múa vờ hai bên. Khi hai “ông trâu” cách nhau 20m, người dắt nhanh chóng thoát ra ngoài sới. Hai trâu lao vào nhau thi đấu trong tiếng hò vang của hàng nghìn khán giả.
Kết thúc, trâu nào đoạt giải nhất sẽ được rước giải về đình làm Lễ tế thần. Theo quan niệm truyền thống, cuộc rước này phải có đông đủ người dân Đồ Sơn, kể cả chủ trâu thua cuộc. Việc làm này như biểu thị cho sự đoàn kết, vô tư, cùng đồng lòng, đồng sức. Theo tập tục, các trâu tham gia chọi, dù thắng hay thua đều phải giết thịt để cúng thần.
Lễ hội chọi trâu mang đậm nét văn hóa tâm linh, tinh thần thượng võ, táo bạo và lòng quả cảm của người dân miền biển Đồ Sơn. Đây cũng là sản phẩm du lịch độc đáo của thành phố Hải Phòng.
Lễ hội đâm trâu Tây Nguyên
Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy, bà con dân tộc ở Tây Nguyên lại tổ chức lễ hội đâm trâu nhằm tạ ơn giàng (trời), các vị thần đã cho mưa thuận gió hòa, phù hộ cho dân làng làm ăn được mùa, con cháu khoẻ mạnh. Lễ hội thường được tổ chức trước nhà rông, nhà cộng đồng, hoặc dưới một tán cổ thụ hay bãi đất trống trong buôn làng. Tiếng cồng chiêng tưng bừng trong suốt thời gian diễn ra lễ hội.
Bắt đầu khai hội thường vào giờ Sửu xế chiều. Các chàng trai trong làng chít khăn đỏ, mặc áo lễ “Blan” hoặc áo ló chui đầu, không tay, có thêu hoa văn sặc sỡ hai bên vạt áo, đóng khố trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh. Các sơn nữ mặc áo “Phia”, một kiểu áo lễ của nữ giới, váy hoa, đầu chít khăn trắng cùng ban cồng chiêng đứng bên già làng, còn gọi là “Riu Yang” (thầy cúng).
Một con trâu đực được lựa chọn cẩn thận từ trước đó, được dẫn ra buộc chặt vào cột Gưng (là một cây gỗ quý to lớn cao thẳng dựng lên sân tổ chức lễ hội đâm trâu). Sau lời phát biểu của già làng, chủ tế buổi lễ, cồng chiêng nổi lên và những nam thanh nữ tú cùng nhảy múa theo điệu nhạc.

Trong nhịp trống, cồng chiêng, những chàng trai bắt đầu đâm trâu. Sau đó, thịt trâu được xẻ đều cho từng nhà trong buôn làng, còn lại sẽ dùng để nấu cỗ ăn uống chung tại nhà rông. Đầu trâu được gác lên một cây cột, sáng hôm sau sẽ làm lễ rước đầu trâu lên nhà rông, cặp sừng sẽ được giữ lại và treo trên vách.
Trong suốt ngày và đêm này, mọi người sẽ nhảy múa theo tiếng chiêng. Ngoài ra còn có các hoạt động thi thố tài năng bằng đấu vật, đánh roi… để tranh giành bùa do già làng tặng. Theo suy nghĩ của người dân, sau lễ hội đâm trâu mọi nỗi buồn, hiềm khích, đố kỵ trong làng được thần linh mang đi, niềm vui và hạnh phúc được nâng lên gấp bội.
Thường vào ngày 6 Tết hàng năm, người dân ở làng Ném Thượng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh đổ về sân đình để chứng kiến lễ rước và chém lợn tế thần truyền thống dịp đầu xuân.
Tục truyền có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hàng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất.
Vào ngày này, người dân chọn hai con lợn và người chủ nuôi hợp tuổi, có gia cảnh tốt để giao nhiệm vụ chăn nuôi, chờ đến ngày tế lễ. Do tôn thờ ngày lễ long trọng này, người dân gọi là hai "ông ỉn" và được nhốt trong cũi hồng rước đi vòng quanh làng với các phường trống, kèn, cờ, táng lọng cùng các đội múa, đội tế lễ, đội dâng hương... Khi đoàn tế lễ đi qua, người dân trong làng bày mâm cúng, góp tiền công đức.
Ông ỉn được diễu khắp làng trước khi đưa về sân đình làm lễ tế. Ảnh: Hoàng Hà
Sau màn "trình diễn" khắp làng, lễ rước trở lại sân đình. Vị Tướng làm lễ phất cờ, hai đao thủ được dân làng chọn từ những gia đình hạnh phúc, con cháu đề huề, nuôi lợn mát tay, khỏe mạnh và phải đúng 50 tuổi ra tay chém hai "ông ỉn" tế thánh. Hai chú lợn nhanh chóng bị chém đứt làm đôi trong sự hò reo của người tham gia lễ hội.
Theo tín ngưỡng dân gian của vùng quê Kinh Bắc, máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu... Vì vậy sau mỗi khi chém lợn, người dân hoặc du khách tranh nhau sờ vào tiết lợn dây đầy trên sân để cầu may. Lợn tế thánh được chia cho mọi người trong làng với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc.
Lễ hội chọi trâu Hải Phòng
Hàng năm, vào ngày 8 tháng 9 âm lịch, người dân ở khắp nơi lại nô nức kéo về Đồ Sơn, Hải Phòng để xem chọi trâu. Đây là một lễ hội truyền thống của người dân vạn chài tại vùng biển Đồ Sơn.
Từ trước đó một năm, người nuôi trâu phải lựa chọn những con trâu to khỏe và nuôi dưỡng, chăm sóc rất công phu để chuẩn bị cho lễ hội chọi trâu. Trâu chọi phải được nuôi ở chuồng riêng, tách biệt và kín đáo. Đặc biệt, trâu chọi không bao giờ được nhìn thấy trâu nhà, cốt là để khôi phục bản năng hoang dã, đơn độc. Sân đấu thường là một bãi đất rộng, với hàng nghìn người theo dõi.
Những con trâu lao vào nhau trong lễ hội chọi trâu 2013. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Hải Phòng
Sau khi huấn luyện, con nào được chọn làm trâu chọi sẽ được gọi một cách tôn kính là “ông trâu”. Trước giờ thi đấu, trâu được dẫn ra sân để làm quen với không khí.
Mở đầu lễ hội là Lễ tế thần Điểm Tước (vị thủy thần và cũng là thành hoàng làng của cả vùng Đồ Sơn). Sau đó là phần hội chọi trâu. Tại sới chọi, trâu được dẫn ra có người che lọng và múa vờ hai bên. Khi hai “ông trâu” cách nhau 20m, người dắt nhanh chóng thoát ra ngoài sới. Hai trâu lao vào nhau thi đấu trong tiếng hò vang của hàng nghìn khán giả.
Kết thúc, trâu nào đoạt giải nhất sẽ được rước giải về đình làm Lễ tế thần. Theo quan niệm truyền thống, cuộc rước này phải có đông đủ người dân Đồ Sơn, kể cả chủ trâu thua cuộc. Việc làm này như biểu thị cho sự đoàn kết, vô tư, cùng đồng lòng, đồng sức. Theo tập tục, các trâu tham gia chọi, dù thắng hay thua đều phải giết thịt để cúng thần.
Lễ hội chọi trâu mang đậm nét văn hóa tâm linh, tinh thần thượng võ, táo bạo và lòng quả cảm của người dân miền biển Đồ Sơn. Đây cũng là sản phẩm du lịch độc đáo của thành phố Hải Phòng.
Lễ hội đâm trâu Tây Nguyên
Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy, bà con dân tộc ở Tây Nguyên lại tổ chức lễ hội đâm trâu nhằm tạ ơn giàng (trời), các vị thần đã cho mưa thuận gió hòa, phù hộ cho dân làng làm ăn được mùa, con cháu khoẻ mạnh. Lễ hội thường được tổ chức trước nhà rông, nhà cộng đồng, hoặc dưới một tán cổ thụ hay bãi đất trống trong buôn làng. Tiếng cồng chiêng tưng bừng trong suốt thời gian diễn ra lễ hội.
Bắt đầu khai hội thường vào giờ Sửu xế chiều. Các chàng trai trong làng chít khăn đỏ, mặc áo lễ “Blan” hoặc áo ló chui đầu, không tay, có thêu hoa văn sặc sỡ hai bên vạt áo, đóng khố trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh. Các sơn nữ mặc áo “Phia”, một kiểu áo lễ của nữ giới, váy hoa, đầu chít khăn trắng cùng ban cồng chiêng đứng bên già làng, còn gọi là “Riu Yang” (thầy cúng).
Một con trâu đực được lựa chọn cẩn thận từ trước đó, được dẫn ra buộc chặt vào cột Gưng (là một cây gỗ quý to lớn cao thẳng dựng lên sân tổ chức lễ hội đâm trâu). Sau lời phát biểu của già làng, chủ tế buổi lễ, cồng chiêng nổi lên và những nam thanh nữ tú cùng nhảy múa theo điệu nhạc.
Lễ hội đâm trâu của người Tây Nguyên được tái hiện tại Llàng văn hóa các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội). Ảnh: Hoàng Hà
Trong nhịp trống, cồng chiêng, những chàng trai bắt đầu đâm trâu. Sau đó, thịt trâu được xẻ đều cho từng nhà trong buôn làng, còn lại sẽ dùng để nấu cỗ ăn uống chung tại nhà rông. Đầu trâu được gác lên một cây cột, sáng hôm sau sẽ làm lễ rước đầu trâu lên nhà rông, cặp sừng sẽ được giữ lại và treo trên vách.
Trong suốt ngày và đêm này, mọi người sẽ nhảy múa theo tiếng chiêng. Ngoài ra còn có các hoạt động thi thố tài năng bằng đấu vật, đánh roi… để tranh giành bùa do già làng tặng. Theo suy nghĩ của người dân, sau lễ hội đâm trâu mọi nỗi buồn, hiềm khích, đố kỵ trong làng được thần linh mang đi, niềm vui và hạnh phúc được nâng lên gấp bội.
1:12 AM
Sau tháng 10 khi mùa vụ đã thu hoạch xong, nhà nào cũng có vài ba người đi chợ. Không chỉ người lớn mà cả trẻ em và người già cũng đến, khiến phiên chợ đông như trẩy hội. Điều đặc biệt là ở chợ Cán Cấu, ngoài du khách dưới xuôi và “Tây ba lô”, phần lớn người tham gia là người Mông và người Giáy, nhưng chợ lại thực hiện theo lối buôn bán của người Dao.
Chợ Cán Cấu được chia thành ba khu vực, trong đó khu rộng nhất là nơi bán gia súc. Mặc dù bán cả bò, dê, ngựa nhưng nhiều nhất ở đây là trâu. Do đó, chợ Cán Cấu được gọi là chợ trâu. Trái ngược với hình dung về một khu chợ gia súc tự phát ồn ào lời qua tiếng lại, kỳ kèo mặc cả, du khách đến với chợ trâu Cán Cấu chỉ nghe thấy âm thanh rì rầm thương lượng và đánh giá trâu của người mua.
Những con người miền ngược vốn chân chất, thật thà nên người bán không hét giá, người mua mặc cả để lấy may. Chủ trâu và khách hàng chỉ nói đủ cho nhau nghe. Trước khi mua, khách thường xem xét rất kỹ càng, tỉ mỉ từng con trâu đem bán. Những con trâu được chọn thường chân to, khỏe, sống lưng chắc, đôi sừng mở rộng và bụng thon như hình cá trắm.

Khu chợ trâu chủ yếu tập trung đàn ông mua và bán. Ảnh: vcn
Giá mỗi con trâu ở chợ Cán Cấu dao động từ 6 đến 20 triệu đồng, tùy thuộc vào trâu đen hay trâu trắng, đực hay cái, đẹp mã hay không và mua về để cày hay lấy thịt. Là chợ trâu lớn nhất Tây Bắc, mỗi phiên chợ có đến gần trăm con trâu được mua và bán. Do đó, rất ít người mua trâu phải ra về tay không.
Khi cuộc trao đổi đã hoàn tất, cả chủ lẫn khách cùng kéo nhau đến bên nồi thắng cố đang tỏa khói nghi ngút, nhấp môi chén rượu Si thơm nồng. Hết phiên chợ những con trâu mua được đeo trên cổ chiếc chuông nhỏ bằng đồng hình lá thông, ngoan ngoãn theo chủ mới về bản. Mỗi bước đi lại vang lên tiếng nhạc vui rộn cả quãng đường.
Tuy không nổi tiếng như khu chợ trâu nhưng khu hàng ăn và nông sản địa phương, vật dụng gia đình rất được du khách yêu thích. Người dân địa phương gọi vui hai khu chợ này là dành cho phụ nữ, bởi đàn ông đi chợ Cán Cấu chủ yếu là để mua bán trâu hoặc ăn thắng cố.

Khu bán đồ nông sản nổi bật với màu đỏ của những chùm ớt chín. Ảnh: vietnamnay
Ấn tượng nhất ở khu chợ này là màu sắc sặc sỡ của những chiếc váy Mông được bày bán. Bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi tận mắt thấy những hoa văn thêu và trang trí cầu kỳ đến từng chi tiết. Có những chiếc váy làm thủ công, mất cả năm trời mới thành hình, nên sẽ không có gì là lạ khi giá được bán lên đến cả triệu đồng. Bên cạnh đó, du khách cũng rất dễ bị cuốn hút bởi những sạp hàng trang sức với đủ loại vòng, xuyến, hoa tai chạm khắc tinh xảo và đẹp mắt.
Ở khu hàng ăn, ngoài thắng cố và rượu ngô, chợ còn có rất nhiều hàng ăn hấp dẫn. Có món giống như phở dưới xuôi, nhưng bánh có màu ngăm đen, có thể ăn với thịt lợn luộc hoặc chan nước dùng được hầm từ xương. Ngoài ra là rất nhiều loại bánh làm từ bột ngô, sắn, nếp.
Như nhiều chợ phiên khác, chợ Cán Cấu còn là dịp để hẹn hò đôi lứa và trò chuyện bạn bè. Họ không đến chợ với mục đích mua bán mà chủ yếu để mua vui và giao lưu tình cảm. Bởi thế, chợ Cán Cấu không chỉ đơn thuần là giao thương mà đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của người dân Tây Bắc.
Độc đáo chợ trâu Lào Cai
Như chợ Đồng Xuân ở Hà Nội, chợ Đông Ba ở Huế hay chợ Bến Thành ở Sài Gòn, chợ trâu Cán Cấu là niềm tự hào của vùng đất Lào Cai.
Phiên chợ họp vào thứ bảy hàng tuần ở lưng chừng con dốc Cán Chư Sử, thuộc xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, Lào Cai. Từ sáng sớm, người dân khắp vùng trong huyện và các xã ở Bắc Hà, Mường Khương, Bảo Thắng, Bát Xát đổ dồn về đây, ngay cả đồng bào ở huyện Sín Mần, Hà Giang và người Trung Quốc cũng sang.
Chợ là ngày hội của huyện Si Ma Cai và các vùng lân cận. Ảnh: sgtt
Sau tháng 10 khi mùa vụ đã thu hoạch xong, nhà nào cũng có vài ba người đi chợ. Không chỉ người lớn mà cả trẻ em và người già cũng đến, khiến phiên chợ đông như trẩy hội. Điều đặc biệt là ở chợ Cán Cấu, ngoài du khách dưới xuôi và “Tây ba lô”, phần lớn người tham gia là người Mông và người Giáy, nhưng chợ lại thực hiện theo lối buôn bán của người Dao.
Chợ Cán Cấu được chia thành ba khu vực, trong đó khu rộng nhất là nơi bán gia súc. Mặc dù bán cả bò, dê, ngựa nhưng nhiều nhất ở đây là trâu. Do đó, chợ Cán Cấu được gọi là chợ trâu. Trái ngược với hình dung về một khu chợ gia súc tự phát ồn ào lời qua tiếng lại, kỳ kèo mặc cả, du khách đến với chợ trâu Cán Cấu chỉ nghe thấy âm thanh rì rầm thương lượng và đánh giá trâu của người mua.
Những con người miền ngược vốn chân chất, thật thà nên người bán không hét giá, người mua mặc cả để lấy may. Chủ trâu và khách hàng chỉ nói đủ cho nhau nghe. Trước khi mua, khách thường xem xét rất kỹ càng, tỉ mỉ từng con trâu đem bán. Những con trâu được chọn thường chân to, khỏe, sống lưng chắc, đôi sừng mở rộng và bụng thon như hình cá trắm.
Khu chợ trâu chủ yếu tập trung đàn ông mua và bán. Ảnh: vcn
Giá mỗi con trâu ở chợ Cán Cấu dao động từ 6 đến 20 triệu đồng, tùy thuộc vào trâu đen hay trâu trắng, đực hay cái, đẹp mã hay không và mua về để cày hay lấy thịt. Là chợ trâu lớn nhất Tây Bắc, mỗi phiên chợ có đến gần trăm con trâu được mua và bán. Do đó, rất ít người mua trâu phải ra về tay không.
Khi cuộc trao đổi đã hoàn tất, cả chủ lẫn khách cùng kéo nhau đến bên nồi thắng cố đang tỏa khói nghi ngút, nhấp môi chén rượu Si thơm nồng. Hết phiên chợ những con trâu mua được đeo trên cổ chiếc chuông nhỏ bằng đồng hình lá thông, ngoan ngoãn theo chủ mới về bản. Mỗi bước đi lại vang lên tiếng nhạc vui rộn cả quãng đường.
Tuy không nổi tiếng như khu chợ trâu nhưng khu hàng ăn và nông sản địa phương, vật dụng gia đình rất được du khách yêu thích. Người dân địa phương gọi vui hai khu chợ này là dành cho phụ nữ, bởi đàn ông đi chợ Cán Cấu chủ yếu là để mua bán trâu hoặc ăn thắng cố.
Khu bán đồ nông sản nổi bật với màu đỏ của những chùm ớt chín. Ảnh: vietnamnay
Ấn tượng nhất ở khu chợ này là màu sắc sặc sỡ của những chiếc váy Mông được bày bán. Bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi tận mắt thấy những hoa văn thêu và trang trí cầu kỳ đến từng chi tiết. Có những chiếc váy làm thủ công, mất cả năm trời mới thành hình, nên sẽ không có gì là lạ khi giá được bán lên đến cả triệu đồng. Bên cạnh đó, du khách cũng rất dễ bị cuốn hút bởi những sạp hàng trang sức với đủ loại vòng, xuyến, hoa tai chạm khắc tinh xảo và đẹp mắt.
Ở khu hàng ăn, ngoài thắng cố và rượu ngô, chợ còn có rất nhiều hàng ăn hấp dẫn. Có món giống như phở dưới xuôi, nhưng bánh có màu ngăm đen, có thể ăn với thịt lợn luộc hoặc chan nước dùng được hầm từ xương. Ngoài ra là rất nhiều loại bánh làm từ bột ngô, sắn, nếp.
Như nhiều chợ phiên khác, chợ Cán Cấu còn là dịp để hẹn hò đôi lứa và trò chuyện bạn bè. Họ không đến chợ với mục đích mua bán mà chủ yếu để mua vui và giao lưu tình cảm. Bởi thế, chợ Cán Cấu không chỉ đơn thuần là giao thương mà đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của người dân Tây Bắc.
12:13 AM
Điều làm nên sự kì ảo của hai nhánh con sông này chính là việc nó đã tạo hình dáng con cá chép của ngôi làng. Nhìn từ trên cao, hai nhánh con sông như những đường viền ngăn cách ngôi làng với vùng đất bên cạnh, khiến cho khu đất bên trong hiện lên hình dáng "lý ngư", những cây cầu xung quanh làng cũng được xây dựng ở vị trí tương ứng với các loại vây trên mình cá, tại phần đầu cá còn có một chiếc giếng khơi, nước trong vắt nên được gọi là giếng Mắt cá.
Làng cổ hình cá chép Hành Thiện
Ngôi làng "hình cá chép" độc nhất
Làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, Nam Định vốn có tên gọi là "Hành Cung Trang" được thành lập vào khoảng năm 1500. Đến năm 1823, vua Minh Mạng cho đổi tên thành Hành Thiện với ý nghĩa "nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện" và ban cho làng 4 chữ "Mỹ Tục Khả Phong". Điều đáng khâm phục là ngay từ khi lập làng các cư dân nơi đây đã có ý thức quy hoạch một không gian sống hết sức khoa học, quy củ: hình cá chép.
Bao quanh làng là hai nhánh của một con sông nhỏ rộng khoảng 7m, được gọi là sông Con (để phân biệt với sông Cái - sông Ninh Cơ là một nhánh của sông Hồng). Theo các bậc cao niên trong làng, có hai giả thiết về việc hình thành lên con sông này.
Giả thiết thứ nhất cho rằng chúng được tạo thành một cách tự nhiên, những cư dân đến ở chỉ là người khai khẩn, chỉnh trang lại như địa thế ngày nay. Giả thiết thứ hai được nhiều người tán thành hơn, đó là chính những cư dân đầu tiên đã "quy hoạch" ngôi làng và tiến hành đào lên hai con sông theo ý đồ trước đó, nhằm mục đích phù hợp với phong thủy và ngăn giặc cướp.
Ảnh bản đồ của làng Hành Thiện
Điều làm nên sự kì ảo của hai nhánh con sông này chính là việc nó đã tạo hình dáng con cá chép của ngôi làng. Nhìn từ trên cao, hai nhánh con sông như những đường viền ngăn cách ngôi làng với vùng đất bên cạnh, khiến cho khu đất bên trong hiện lên hình dáng "lý ngư", những cây cầu xung quanh làng cũng được xây dựng ở vị trí tương ứng với các loại vây trên mình cá, tại phần đầu cá còn có một chiếc giếng khơi, nước trong vắt nên được gọi là giếng Mắt cá.
Nếu coi làng Hành Thiện như một chú cá chép thì vùng đất từ giữa bụng cá trở lên đến mang cá được quy hoạch làm nơi sinh sống của dân cư trong làng. Trong khu vực này hình thành lên 14 dong (xóm), mỗi dong cắt ngang theo thân cá như chia khúc, gồm một con đường chạy dọc ở giữa và các ngôi nhà được xây dựng hai bên. Phần đầu cá được quy định làm nơi họp chợ của cả làng, tại đuôi cá là khu nghĩa trang và chùa miếu để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Nhìn tổng thể mặt địa lý làng Hành Thiện ta không thể không khâm phục óc tưởng tượng của các cư dân cách đây hơn 510 năm, theo như tài liệu để lại, trước đây toàn bộ đường đi trong làng đều được lát đá xanh, "mưa gió bùn đất không bén gót chân", bên cạnh đường xóm là rãnh thoát nước được xây bằng gạch mộc, chính vì thế làng không bao giờ phải chịu cảnh ngập lụt bởi tất cả nước mưa, nước sinh hoạt đều theo các rãnh này chảy ra hai nhánh con sông quanh làng và từ đó thoát ra sông Ninh Cơ.
Ngày nay về cơ bản làng vẫn giữ nguyên hình dạng như thửa sơ khai…
Labels:
News,
Văn Hóa,
Video Clip
11:29 PM
Bánh chưng, bánh tét là món ăn truyền thống của dân tộc. Có nhiều truyền thuyết dân gian cũng như có nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa giải thích khác nhau về ý nghĩa. Riêng tôi rất thích thú với truyền thuyết từ thời vua Hùng Vương thứ 6, về cuộc thi tài để chọn người lên làm vua: không thi gì mà thi làm món ăn. Ngay sau khi phá xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con.Vào dịp đầu xuân, vua mở hội các con mà bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành để bày cỗ và có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho". Các Lang (các người con của vua Hùng) đã đua nhau làm ra những món lạ từ những vật liệu sơn hào hải vị quý hiếm khắp nơi. Riêng người con trai thứ 18 của vua Hùng là Lang Liêu tính tình thuần hậu, chí hiếu, làm ra bánh chưng, bánh dầy. Kết quả được vua cha chọn nhường ngôi. Cái giỏi và cái tâm của Lang Liêu là biết sử dụng những nguyên liệu thông thường có sẵn như: lá, gạo nếp, đậu xanh, thịt heo... để làm thành món ăn, mà trong đó đã gói ghém cả một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, mang ý nghĩa sâu xa để làm vật phẩm cúng tế tổ tiên, đất trời. Vào các dịp lễ tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng, bánh dầy. Có người quan niệm bánh chưng hình vuông để tượng trưng cho đất, là âm, dành cho mẹ. Bánh dầy hình tròn để tượng trưng cho trời, là dương dành cho cha. Ở miền Nam bánh tét được chọn thay thế bánh chưng. Có người giải thích đó là do sự hội nhập nhiều luồng văn hoá khác nhau, đặc biệt là văn hoá Chăm với tín ngưỡng "Phồn Thực", nên bánh tét có hình tượng như chiếc Linga là biểu tượng của sức sống, sự trường tồn, hùng mạnh... Nhưng có quan niệm khác cho rằng bánh tét thực ra là cái bánh chưng nguyên thủy của người Việt cổ, được bảo lưu tại miền Nam. Ở miền Trung thì có cả bánh chưng và bánh tét. Từ năm 1802, sau khi đất nước được thống nhất dưới thời Gia Long, bắt đầu có sự kết hợp văn hoá cổ truyền của đất Bắc và văn hoá mới phong phú của vùng đất mới phương Nam. Đặc biệt ở Thừa Thiên Huế, trong nồi bánh tết luôn luôn có 2 loại, vừa bánh chưng vừa bánh tét.....
Chợ Tết - Hoa Đào và tục gói bánh chưng ngày Tết
THỊT MỠ, DƯA HÀNH, CÂU ĐỐI ĐỎ
CÂY NÊU, TRÀNG PHÁO, BÁNH CHƯNG XANH.
Bánh chưng, bánh tét là món ăn truyền thống của dân tộc. Có nhiều truyền thuyết dân gian cũng như có nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa giải thích khác nhau về ý nghĩa. Riêng tôi rất thích thú với truyền thuyết từ thời vua Hùng Vương thứ 6, về cuộc thi tài để chọn người lên làm vua: không thi gì mà thi làm món ăn. Ngay sau khi phá xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con.Vào dịp đầu xuân, vua mở hội các con mà bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành để bày cỗ và có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho". Các Lang (các người con của vua Hùng) đã đua nhau làm ra những món lạ từ những vật liệu sơn hào hải vị quý hiếm khắp nơi. Riêng người con trai thứ 18 của vua Hùng là Lang Liêu tính tình thuần hậu, chí hiếu, làm ra bánh chưng, bánh dầy. Kết quả được vua cha chọn nhường ngôi. Cái giỏi và cái tâm của Lang Liêu là biết sử dụng những nguyên liệu thông thường có sẵn như: lá, gạo nếp, đậu xanh, thịt heo... để làm thành món ăn, mà trong đó đã gói ghém cả một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, mang ý nghĩa sâu xa để làm vật phẩm cúng tế tổ tiên, đất trời. Vào các dịp lễ tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng, bánh dầy. Có người quan niệm bánh chưng hình vuông để tượng trưng cho đất, là âm, dành cho mẹ. Bánh dầy hình tròn để tượng trưng cho trời, là dương dành cho cha. Ở miền Nam bánh tét được chọn thay thế bánh chưng. Có người giải thích đó là do sự hội nhập nhiều luồng văn hoá khác nhau, đặc biệt là văn hoá Chăm với tín ngưỡng "Phồn Thực", nên bánh tét có hình tượng như chiếc Linga là biểu tượng của sức sống, sự trường tồn, hùng mạnh... Nhưng có quan niệm khác cho rằng bánh tét thực ra là cái bánh chưng nguyên thủy của người Việt cổ, được bảo lưu tại miền Nam. Ở miền Trung thì có cả bánh chưng và bánh tét. Từ năm 1802, sau khi đất nước được thống nhất dưới thời Gia Long, bắt đầu có sự kết hợp văn hoá cổ truyền của đất Bắc và văn hoá mới phong phú của vùng đất mới phương Nam. Đặc biệt ở Thừa Thiên Huế, trong nồi bánh tết luôn luôn có 2 loại, vừa bánh chưng vừa bánh tét.....
Labels:
News,
Văn Hóa,
Video Clip
3:41 AM











Xem lễ hội vày bùn ở Phú Thọ
Nhiều du khách đến Lễ hội phết Hiền Quan (xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ) đã phát khiếp khi nhìn cảnh những chàng trai ngập mình trong bùn đất, chen lấn xô đẩy nhau để cướp quả phết.
Lễ hội phết Hiền Quan (xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ) được tổ chức vào 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là một trong những lễ hội lớn ở phía Bắc, diễn ra từ xa xưa, thu hút hàng ngàn khách thập phương tới tham dự.
Tương truyền năm 16 tuổi Thiều Hoa đến tu tại chùa Phúc Thánh - Hiền Quan. Nghe tin Trưng Trắc dấy binh khởi nghĩa, Thiều Hoa tập hợp được đội quân 500 người, hàng ngày luyện tập võ nghệ, chơi trò đánh phết, phóng lao, rồi về Hát Môn tụ nghĩa.
Để tưởng nhớ công lao của người, hàng năm tại đền thờ nữ tướng Thiều Hoa ở Hiền Quan có tổ chức lễ hội tưởng niệm nữ tướng và trò chơi đánh phết, với quan niệm cướp phết cầu may mắn trong suốt năm.
Ngoài phần cướp Phết, lễ hội con tổ chức các cuộc thi dân gian như nấu cơm , làm bánh dầy, nhưng phần cướp phết là phần vui nhất và cũng quyết liệt nhất
Khác với những năm trước, hội Phết Hiền Quan năm nay được tổ chức trong đồng bởi nước sông đã ăn hết bãi bồi trước kia (nơi tổ chức hội cướp phết hàng năm).
Sau khi lần lượt từng quả phết và chúi được mang ra chôn xuống điểm đã định, các thanh niên trong làng tham gia liền xông vào đào bới và tranh cướp bất chấp bùn lầy đến gần đầu gối.
Vật lộn trên đám bùn
Một vùng ruộng nhão nhoét và ngập bùn đất
Những chàng trai toàn thân ngập bùn, khuôn mặt chỉ còn lộ hai con mắt
Nhiều người còn bị ngất ngay trên bãi ruộng
Niềm vui khi cướp được quả phết
Du khách khắp nới về chật kín vùng lễ hội












